Hao phí nguyên liệu: nguyên liệu thực tế đã tiêu hao khi bán
Số nguyên liệu thực xuất kho khi bán món có công thức trong kỳ, theo mã hàng, đơn vị, số lượng và giá trị theo giá vốn lúc xuất. Khác với số bán nhân định mức.
Hao phí nguyên liệu bán trực tiếp (menu Bán hàng › Báo cáo) đọc từ các phiếu xuất kho tạo lúc bán: mỗi ly cà phê bán ra xuất bao nhiêu gram cà phê, sữa, ly giấy. Đây là số thực tiêu hao, không phải số ước tính.

- 1Kỳ nhanh và lọc Nhóm hàng, tìm nguyên liệu; Xuất Excel / CSV.
- 2Dòng giải thích: món còn tồn thành phẩm chỉ dựng phần thiếu, nên tiêu hao thực có thể thấp hơn định mức. Giá trị chốt theo giá vốn tại thời điểm xuất kho.
- 3Ba ô: Số nguyên liệu, Số chi nhánh, Tổng giá trị.
- 4Bảng: mã, tên, ĐVT, nhóm hàng, Số lượng tiêu hao, Giá trị.
Vì sao số ở đây khác "số bán × định mức"
Món có sẵn thành phẩm tồn kho (làm trước, ví dụ bánh nướng buổi sáng) thì bán ra trừ thành phẩm, không trừ nguyên liệu lần nữa.
Công thức có bán thành phẩm (nước cốt) thì báo cáo ghi nước cốt, không tách ra cà phê hạt; muốn xem sâu hơn thì mở công thức của bán thành phẩm.
Đơn huỷ đã nhập lại kho nên không tính.
Định mức sửa giữa kỳ: đơn trước dùng định mức cũ, đơn sau dùng định mức mới.
Cách dùng cuối tháng
- Chọn Tháng này, bấm Xem báo cáo
Ghi lại Tổng giá trị là giá vốn nguyên liệu của phần bán trực tiếp.
- So với kiểm kê
Vào Kho & Mua hàng › Kiểm kê: tồn đầu + nhập − hao phí báo cáo này = tồn lý thuyết. Chênh với tồn đếm thực là hao hụt ngoài bán (đổ vỡ, dùng nội bộ, thất thoát).
- Rà định mức
Nguyên liệu nào hao hụt lớn lặp lại nhiều tháng thì kiểm tra lại định mức trong Công thức bán hoặc quy trình pha chế.